Tài liệu

Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm

Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm

Tổng quan về tài liệu Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm

Khoa Sư Phạm Tâm Lí Học Lứa Tuổi Và Tâm Lí Học Sư Phạm Tác giả: Đỗ Văn Thông Chương I: Nhập Môn Tâm Lý Học Lứa Tuổi nói chung về tâm lý học lứa tuổi và sư phạm 1. Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm a. Đối tượng: – Đối tượng của tâm lí học lứa tuổi là động lực phát triển tâm lí theo lứa tuổi của con người ; sự tăng trưởng cá thể của các quá trình tâm lí và các phẩm chất tâm lí trong nhân cách của con người đang được lớn mạnh (quá trình con người trở nên tư cách như thế nào?); Tâm lí học lứa tuổi nghiên cứu đặc điểm của các công đoạn và các phẩm chất tâm lí riêng lẻ của tư nhân ở những lứa tuổi khác nhau và sự khác biệt của chúng ở mỗi cá nhân trong phạm vi một lứa tuổi, nghiên cứu những khả năng lứa tuổi của việc lĩnh hội tri thức, phương thức hành động ; Tâm lí học lứa tuổi nghiên cứu các dạng hoạt động khác nhau của các cá nhân đang được tăng trưởng (vui chơi, lao động…)
Do buộc phải của thực tiễn và thành tựu của khoa học, bây giờ tâm lí học lứa tuổi có phổ quát phân ngành nghề : tâm lí học con nhỏ trước tuổi học, tâm lí học tuổi nhi đồng, tâm lí học tuổi thiếu niên, tâm lí học tuổi thanh niên… – Đối tượng nghiên cứu của tâm lí học sư phạm là các quy luật tâm lí của việc dạy học và giáo dục. Tâm lí học sư phạm nghiên cứu những trắc trở tâm lí học của việc điều khiển quá trình dạy học, nghiên cứu sự hình thành thời kỳ nhận thức, sắm tòi những tiêu chuẩn đáng tin cậy của sự phát triển trí óc và xác định những điều kiện để đảm bảo vững mạnh trí óc với hiệu qủa trong công đoạn dạy học, coi xét những trở ngại và mối quan hệ qua lại giữa thầy giáo và học sinh cũng như giữa học trò có học trò. những phân lĩnh vực của tâm lí học sư phạm: tâm lí học dạy học, tâm lí học giáo dục và tâm lí học về người giáo viên. b. Nhiệm vụ: từ những nghiên cứu trên tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm có nhiệm vụ : rút ra các quy luật chung của sự tăng trưởng tư cách theo lứa tuổi, các yếu tố chỉ đạo sự tăng trưởng nhân cách theo lứa tuổi ; rút ra những quy luật lĩnh hội kiến thức, kỹ năng kỹ xảo trong công đoạn giáo dục và dạy học, những biến đổi tâm lí của học sinh do ảnh hưởng của giáo dục và dạy học…từ ấy cung ứng các kết quả nghiên cứu để tổ chức có lí giai đoạn sư phạm, góp phần tăng hiệu quả của hoạt động giáo dục và dạy học. c. Ý nghĩa: những thành quả của tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm có ý nghĩa lí luận và thực tại lớn lao. – Về mặt lí luận, những nghiên cứu của tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm sử dụng những tài liệu của 1 số công nghệ khác, nhưng tới lượt mình nó lại sản xuất tài liệu mang ý nghĩa quan trọng cho các công nghệ khác. – Về mặt thực tại sở hữu thể khẳng định sự hiểu biết về tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm là điều kiện cần phải có để đơn vị mang hiệu quả và đúng đắn công đoạn học tập và giáo dục. 2. Quan hệ giữa tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm mang mối quan hệ chặt chẽ mang nhau và chúng quan hệ chặt chẽ có đa dạng ngành nghề công nghệ khác, đặc thù là tâm lí học đại cương, giáo dục học, cách giảng dạy bộ môn… Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm là các chuyên ngành của tâm lí học, đều dựa trên hạ tầng tâm lí học đại cương. Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm gắn bó chặt chẽ mang nhau, hợp nhất mang nhau, vì chúng có chung khách thể nghiên cứu. Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm đều nghiên cứu con nít trong công đoạn dạy học và giáo dục.
Sự phân chia oắt giới giữa 2 lĩnh vực tâm lí học này chỉ với tính chất hơi. Lý luận về sự phát triển tâm lý học của trẻ một. định nghĩa về sự phát triển tâm lý trẻ em: a. quan niệm về trẻ em: Dựa trên những ý kiến triết học rất khác nhau, người ta đã hiểu về con trẻ rất khác nhau : – mang quan điểm cho rằng trẻ em là “người to thu nhỏ lại”, sự khác nhau giữa con nít và người to khác nhau về mọi mặt (cơ thể, tư tưởng, tình cảm…) chỉ ở tầm cở, kích thước chứ không khác nhau về chất. – Theo J.J. Rútxô (1712 – 1778) : con trẻ chẳng phải là người lớn thu nhỏ lại và người to cũng ko phải khi nào cũng mang thể hiểu được trí não,nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ thơ…vì “Trẻ em có những cách nhìn, phương pháp nghĩ suy và cảm nhận riêng của nó”. – Tâm lý học duy vật biện chứng khẳng định: con nhỏ không hề người to thu nhỏ lại. Sự khác nhau giữa con trẻ và người lớn là sự khác nhau về chất. con nít là con nít, nó chuyển di, phát triển theo quy luật của con nhỏ. Ngay kể từ cất tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã là 1 con người, 1 thành viên của phường hội, với nhu cầu giao du với người to. Việc nuôi nấng, khuyên bảo trẻ phải theo kiểu người. Mỗi thời đại khác nhau mang con nhỏ riêng của mình. b. quan niệm sai trái về sự vững mạnh tâm lý trẻ em: – quan niệm duy tâm coi sụ vững mạnh tâm lý con trẻ chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về số lượng của những hiện tượng đang được vững mạnh, mà ko có sự chuyển biến về chất lượng. – ý kiến này xem sự lớn mạnh của mỗi hiện tượng như là một quá trình diễn ra một cách tự phát mà người ta không thể điều khiển được, không thể nghiên cứu được,không nhận thức được. – quan niệm sai lầm này được biểu đạt ở các thuyết sau: b.1. Thuyết tiền định: + Thuyết này coi sự phát triển tâm lí là do những tiềm năng sinh vật gây ra, con người sở hữu tiềm năng này diễn ra từ mới sinh ra và sự lớn mạnh chỉ là sự trưởng thành, chín muồi của những thuộc tính đã sở hữu sẳng ngay trong khoảng đầu và được quyết định trước bằng trục đường duy truyền này. + các nhà tâm lí học tư sản cho rằng : những tính chất của nhân cách, năng lực cũng đã được mã hoá, chương trình hoá trong các thiết bị gien. + tuy nhiên, với các người theo thuyết này sở hữu đề cập tới nguyên tố môi trường. Nhưng theo họ, mmôi trường chỉ là “yếu tố điều chỉnh“, “yếu tố thể hiện“ 1 yếu tố bất niến nào đấy ở trẻ.
Nhà tâm lý học Mỹ E. Tóocđai cho rằng : “Tự nhiên ban cho mỗi người 1 vốn nhất nhất quyết, giáo dục cần phải khiến cho biểu lộ vốn ấy là vốn gì và phải sử dụng nó bằng dụng cụ tốt nhất“ và “vốn tự nhiên“ đó đặt ra giới hạn cho sự lớn mạnh, bởi vậy 1 bộ phận học trò tỏ ra không đạt được kết quả nào ấy “dù giảng dạy tốt“,số khác lại tỏ ra lại mang thành tích “dù giảng dạy tồi “…) + trong khoảng ý kiến này khiến cho con người phật lòng tin vào giáo dục, vào sự tu dưỡng và cải tạo bản thân, họ cho rằng vai trò của giáo dục là thứ yếu, trẻ tốt hay xấu.học giỏi hay kém chẳng hề do giáo dục mà do gien tốt hay xấu. từ đó, họ đi đến kết luận : trẻ con khó bảo, năng lực trí não kém vững mạnh là do bẩm sinh chứ ko phải do giáo dục,do môi trường. tương tự, vai trò của giáo dục đã bị hạ thấp. Giáo dục chỉ là nguyên tố bên ngoài sở hữu khả năng khiến tăng nhanh hay kìm hãm công đoạn thể hiện những phẩm chất đột nhiên, bị chế ước bởi tính di truyền. Và họ đã rút ra kết luận sai sư phạm lầm: mọi sự can thiệp vào quá trình lớn mạnh trùng hợp của trẻ đều là sự tùy nhân tiện, không thể thứ lỗi. b.2 . Thuyết duy cảm : đối lập mang thuyết tiền định, thuyết duy cảm giải thích sự tăng trưởng của trẻ chỉ bằng những ảnh hưởng của môi trường quanh đó. Theo những tác kém chất lượng thuộc môn phái này thì : + Môi trường là nhân tố tiền định sự phát triển của tẻ em. bởi thế, họ cho rằng, muốn nghiên cứu con người chỉ cần nghiên cứu, phân tích môi trường mà con người sống. + ý kiến này cho rằng : môi trường thị trấn hội là mẫu bất biến, quyết định trước sự tăng trưởng tâm lý tư nhân, còn con người được xem như là đối tượng tiêu cực trước tác động của môi trường. + Mọi người sinh ra đều sở hữu sẳn những đặc điểm bẩm sinh như nhau để lớn mạnh trí tuệ và đạo đức. Sự khác nhau giữa các cá nhân về điểm này hay khác là do ảnh hưởng của môi trường, tác động của những tác động khác nhau. mang quan điểm như vậy, chúng ta không thể giải thích được vì sao trong 1 không gian sống như nhau lại sở hữu những tư cách khác nhau. b.3 . Thuyết tập kết hai nhân tố : những người theo quan điểm này cho rằng: Sự ảnh hưởng hỗ tương giữa hai yếu tố di truyền và môi trường quyết định trực tiếp thời kỳ lớn mạnh, trong ấy di truyền giữ vai trò quyết định và môi trường là điều kiện để biêns những đặc dằn bụng lý đã được định sẳn thành hiện thực. Theo họ, sự tăng trưởng là sự chón muồi của các năng lực , các nét tính cách, các hứng thú…mà trẻ sinh ra đã sở hữu. các nét và các đặc điểm tính cách thức do bác mẹ truyền lại cho trẻ dưới dạng có sẵn, bất biến… một số người theo thuyết này với nhắc đễn vai trò của môi trường đối mang tốc độ chín muồi của năng lực và nét tính phương pháp được truyền lại cho con nhỏ. Nhưng

Trả lời

DMCA.com Protection Status