Tài liệu

Tiểu luận cơ sở văn hóa việt nam

Tiểu luận cơ sở văn hóa việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ tập huấn  TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT TP.HCM TIỂU LUẬN cơ sở VẲN HÓA VIỆT NAM ĐỀ TÀI: TẾT NGUYÊN ĐÁN GVHD: Trương Thị Mỹ Châu Thực Hiện: Nguyễn Chí Trọng MSSV: 13145292 TP.HCM, Ngày 01 Tháng 05 Năm 2015 1
MỤC LỤC I. PHẦN mở màn……………….……………………………………4 II. NỘI DUNG……………………………………………….………5 1. Lịch sử Tết Nguyên Đán………………………………………….……5 1.1. từ nguyên……………………………….…….…………………5 một.2. nguồn gốc ra đời…………………….………..…………………5 một.3. quan niệm ngày tết……………………….…………….………6 2. các thời kỳ chình trong tết……………….….………..……………6 2.1. các ngày cuối năm…………………….….…………………6 2.1.1. trang hoàng – mua sắm tết…………………………..……….…6 2.1.1.1. Mâm ngũ quả…..………………………………………6 2.1.1.2. Tranh tết……….……………………………….………8 hai.1.1.3. Câu đối……………………..…………..……..………10 hai.1.1.4. Hoa tết…………………………..…………………….10 hai.1.1.5. bàn thờ tiên tổ ngày tết………………………………..12 2.1.1.6. Treo quốc kì………………….…………….…………15 2.1.2. ông táo về trời……………………………………..………15 2.1.3. Thăm chiêu tập tồ tiên…………………………………………….17 hai.1.4. Tất niên………………………………………………………17 hai.2. Giao thừa………………………..………………………………18 2.2.1. Cúng ngoài trời………………………………………………19 2.2.2. Cúng trong nhà………………………………………………20 hai.3. Nhừng ngày đầu năm………………………………………….20 hai.3.1. Xông đất đầu năm………………………………………….20 hai.3.2. lên đường – hái lộc – xin quẻ…………………..…………21 2.3.3. Chúc tết…….………………………………………………..23 2.3.4. Lì xì………………………………………………………..…23 hai.3.5. thăm viếng…….…….………………………………..………24 3. Ẩm thực ngày tết……………………………………………….……..24 3.1. Bánh truyền thống……………………………….……….……24 3.2. Cổ tết……………………………………………………………25 3.3. Trái cây……………………………….…………………………25 3.4. Mứt………………………………………………………………25 3.5. Bánh kẹo…….……………………………….…………………25 3.6. Thức uống……..………………………………………………..26 3.7. Ẩm thực khác….………………………………..………………26 4. Lễ hội ngày tết………………………………………..……….………26 hai
4.1. Lễ hội truyền thống………………………………….…………26 4.2. Lễ hội ngày nay …………………………………………..……27 4.3. Lễ hội đặc trưng riêng ở các vùng miền………………..……27 5. tôn giáo ngày tết………………………………………………….28 5.1. Điềm lành………………………………….……………………28 5.2. Kiêng cử…………………………………………………………29 5.2.1. Miền Bắc…………………………….………………………29 5.2.2. Miền Trung…………………………………………………..30 5.2.3. Miền Nam……………………………………………………30 III. TỔNG KẾT………………………………..……………………31 3
I. PHẦN khai mạc “Phong” là nền nếp đã lan truyền phổ quát, ‘Tục” là thói quen lâu đời. Nội dung phong tục bao hàm mọi mặt sinh hoạt thị trấn hội Phong tục có thứ trở nên luật tục, ăn sâu, bén rễ trong dân chúng rât bền chặt, có sức mạnh hơn cả những đạo luật. Trong truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam, có đa dạng thuần phong mỹ tục cần cho đạo lý khiến cho người, kỷ cương thị trấn hội. Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong những lễ hội truyền thống Việt Nam từ hàng nghìn đời nay, là thời điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, Tết trong khoảng ngày xưa đã tiềm tàng các giá trị nhân bản biểu thị mối quan hệ giữa con người có đột nhiên qua bốn mùa . Tết còn là thời cơ để mọi người Việt tưởng nhớ về ông cha, duyên do, gặp gỡ bà con họ hàng, thắt chặt mối quan hệ thân tình trong gia đình, bạn bè. ngoài ra nó còn là dịp để mọi người ngơi nghỉ, thư giãn, giải trí với các hoạt động lễ hội, du xuân vui vẻ và quyến rũ. 4
II. NỘI DUNG 1. Lịch sử một.1 từ nguyên Chữ “Tết” do chữ “Tiết” mà thành. hai chữ “Nguyên đán” mang gốc chữ Hán; “nguyên” với nghĩa là sự bắt đầu hay nguyên sơ và “đán” có tức là buổi sáng sớm, bởi vậy đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán” Tết Nguyên đán được người Trung Hoa hiện nay gọi là “Xuân Tiết” hoặc “Nông lịch tân niên”, và vẫn là tết cựu truyền của họ mặc dầu từ năm 1949 (bắt đầu quá trình Đại cách mệnh văn hóa), Trung Quốc đã chính thức chuyển qua tiêu dùng dương lịch và chuyển qua gọi tết tây là Tết Nguyên đán Do cách thức tính của âm lịch Việt Nam sở hữu khác có Trung Quốc vì vậy Tết Nguyên đán của người Việt Nam đôi đột nhiên hoàn toàn trùng có Xuân tiết của người Trung Quốc và tất cả quốc gia chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa và vòng Văn hóa chữ Hán khác, mà mang thể chênh lệch một ngày (như vào các năm 2007, 2030, 2053, Tết Việt Nam trước Tết Trung Quốc một ngày). 1.2 nguyên do xây dựng thương hiệu Tết Nguyên Đán mang trong khoảng đời Ngũ Đế, Tam Vương. Đời Tam Vương, nhà Hạ, chuộng cái đen, nên chọn tháng đầu năm, tức tháng Giêng, nhằm tháng Dần. Nhà Thương, thích màu trắng, lấy tháng Sửu (con trâu), tháng chạp khiến cho tháng đầu năm. Qua nhà Chu (1050-256 trước công nguyên), ưa sắc đỏ, chọn tháng Tý (con chuột), tháng mười 1 làm cho tháng Tết. các vua chúa kể trên, theo ngày giờ, lúc mới tạo thiên lập địa: tức là giờ Tý thì sở hữu trời, giờ Sửu thì mang đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra ngày tết khác nhau. tới đời Đông Chu, Khổng phu Tử có mặt trên thị trường, đổi ngày tết vào một tháng nhất định: tháng Dần. Mãi đến đời Tần (thế kỷ III trước Công nguyên), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi (con lợn), tức tháng Mười. Cho tới khi nhà Hán trị vì, Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng) như đời nhà Hạ, và từ đấy về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, ko còn nhà vua nào đổi thay về tháng Tết nữa. đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa sở hữu thêm giống Gà, ngày thứ hai sở hữu thêm Chó, ngày thứ ba mang Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh dòng Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. thành ra, ngày Tết thường được diễn ra từ ngày mồng 1 cho tới hết ngày mồng bảy. 5
1.3 quan niệm ngày tết Người Việt tin rằng vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, trong khoảng ngoại vật cho tới lòng người, vì thế khoảng mươi ngày trước Tết họ thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Họ cũng líu tíu đi sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp này. Trong những ngày Tết họ kiêng cữ không nóng giận, gượng nhẹ cọ. Tết là dịp để mọi người hàn gắn những hiềm khích đã qua và là dịp để chuộc lỗi. Mọi người đi viếng thăm nhau và chúc nhau các lời đầy ý nghĩa. trẻ con sau khi chúc Tết người to còn được mở hàng bằng một bì thư đỏ thắm sở hữu chứa ít tiền dành cho chúng chi tiêu ngày Tết. Tết ở 3 miền Bắc, Trung, Nam ở Việt Nam cũng với những điều khác nhau. 2. những giai đoạn chính trong Tết hai.1 các ngày cuối năm Người Việt Nam ý kiến rằng ngày Tết thì đông đảo mọi thứ đều phải thật sớm và mới. bởi vậy trước ngày Tết khoảng hơn 2 tuần, những gia đình đã sắm sanh cho ngày Tết. Họ thường thu vén, trang trí nhà cửa, mua hoa, tậu thức ăn… thật kỹ càng cho ngày Tết. bên cạnh đó, đầy đủ các trang bị không nhu yếu hoặc bị cho là đem đến điềm gở cũng bị vứt bỏ. 2.1.1 trang trí, tìm tết 2.1.1.1 Mâm ngũ quả: Ngũ, Con số 5 là Con số chỉ trung tâm. Theo quan điểm cổ đại phổ quát trong khu vực chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, thường cho rằng những quy luật phổ biến đều gộp vào Báo cáo 5. phổ thông, chúng ta có ngũ phương (Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương), ngũ sắc, ngũ vị, ngũ tạng, ngũ kim, ngũ quan, ngũ luân, ngũ cốc,… như vậy, số 5 là diễn đạt chung của sự sống và ở đây “ngũ quả” tự nó biểu trưng một tập thành được coi là đầy đủ của mẫu lễ phẩm dâng cúng là quả. Quả (trái) – biểu tượng của no ấm. Trái cây đại quát là tượng trưng của sự giàu có, dồi dào. Vì quả thường đựng phổ biến hạt, biểu trưng cho mọi xuất xứ, mọi sự khởi nguyên; biểu trưng quả (với hạt bên trong của nó) biểu lộ cho sự phồn thực, sinh sôi …Xuất phát từ quan điểm về chuộng số lẻ của văn hóa phương Đông, về bộ ngũ hoàn hảo (ngũ hành, ngũ vị, ngũ sắc…), về sự phần đông (như bàn tay 5 ngón)… 6
mà mâm trái cây dâng cúng tiên sư và bác ngày tết của người Việt được gọi là mâm ngũ quả. Việc bày mâm ngũ quả khởi hành trong khoảng lý thuyết về ngũ hành: thuỷ – hỏa – mộc – kim – thổ những nhân tố tạo nên vũ trụ và sự vận hành của nó. thông thường ngũ quả gồm 5 mẫu quả với những màu khác nhau như chuối xanh, bưởi vàng, hồng đỏ, lê trắng, quýt da cam biểu tượng cho mong ước: Phú (giàu có) – quý (sang trọng) – thọ (sống lâu) – khang (khỏe mạnh) – ninh (bình yên). Mỗi một miền lại có 1 quan điểm riêng về ý nghĩa mâm ngũ quả. Người Nam bộ có bí quyết đọc chại âm hay đơn tiết hóa một số từ, thí dụ chỉ tên trái mãng cầu thì gọi đơn tiết hóa là Cầu (mãng cầu: thoả mãn trong sự cầu xin) – Sung (sung: chỉ sự ấm no, sung mãn) – Vừa (đọc chệch âm là dừa: quả dừa) – Đủ (đơn tiết hóa của đu đủ và xài (là phương pháp đọc chệch của âm xoài). Mâm ngủ quả miền Nam Người miền Trung do chịu sự giao trâm văn hóa hai miền Bắc – Nam nên mâm ngũ quả vẫn bày vẽ đủ: chuối, mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài… Rất phong phú! Mâm ngủ quả miền Trung 7
trong khi ấy, người miền Bắc hướng tới ý nghĩa biểu trưng phổ biến hơn, quả phật thủ hay nải chuối như bàn tay che chở của đức phật cho đông đảo mọi người; quả bưởi, dưa hấu mô tả cho sự đầy đặn, trọn vẹn căng đầy sức sống; màu sắc thắm tươi của quýt, hồng biểu tượng cho sự may mắn, hưng vượng cát tường. Mâm ngủ quả miền Bắc hiện nay, mâm quả trên bàn độc tết người Việt phong phú hơn về chủng loại bởi sự góp mặt của những hoa quả ngoại nhập. sở hữu tính dung hợp trong văn hóa, người Việt Nam luôn mang thể mua thấy đầy đủ những nguyên tố thích hợp, mang giá trị ý nghĩa đối sở hữu đời sống tâm linh của dân tộc mình. cuối cùng, những sản vật đẹp mắt nhất, tinh tuý nhất, được dâng bày với các tình cảm hiếu kính, trang trọng và thiết thân nhất. bàn thờ tết không chỉ là nơi mà mọi người thanh minh tình cảm gia đình, huyết thống mà đấy còn là nơi chúng ta gửi gắm những lời chúc may mắn và 1 năm mới an khang, hưng vượng vượng hơn. 2.1.1.2 Tranh Tết Tranh Tết từ lâu đã trở nên 1 tập quán, một thú chơi của người dân Việt Nam. Nó là một phần chẳng thể thiếu trong ko gian của ngày Tết cổ truyền xưa kia. Tranh Tết là 1 phần hồn Việt trong lành, hồn hậu và đồng thời cũng là nơi lưu giữ những giá trị tâm linh sâu sắc. các màu sắc tinh quái như khêu gợi nên cảm giác mới mẻ ấm êm rộn rã sắc xuân trong mỗi gia đình của người Việt. những bức tranh Tết đều có hàm ẩn những nội dung cao xa, các ý nghĩa thâm thúy, với nặng tính chất đặc biệt dân tộc, sở hữu tính cách giáo dục, trào lộng, đôi khi còn lồng vào những nét châm biếm nhẹ nhàn. mang thể phân cái tranh Tết như sau: 8
Tranh chúc tụng: Tranh gà, tranh lợn, tướng quân, tiến sĩ, Phúc-Lộc-Thọ (hình vẽ hoặc chữ) mỗi bức tranh đều sở hữu ý nghĩa của các lời chúc: an lành, sang giàu, tăng phẩm hàm chức tước hoặc đông con. Tranh Lợn Tranh để thờ phượng: như ông táo, Phật Bà, ông công, tứ bình (4 cái hoa hay quả), tứ linh (lân, long, qui, phượng), tứ thời (xuân, hạ, thu, đông). Tranh lịch sử: Vẽ các anh hùng liệt nữ như Lý thường Kiệt, hai bà Trưng, Bà Triệu, trằn hưng Đạo, Ngô Quyền v v Tranh giáo dục: cóc đi học, Nhị thập tứ hiếu (24 người giữ đạo hiếu), tranh ngụ ngôn. Tranh trào lộng: Chuột đỗ trạng nguyên, chuột vinh qui, đám cưới chuột, chuột mèo hóa giải, hái dừa, thầy đồ cóc.v.v. Chuột đỗ trạng nguyên Về bình diện nghệ thuật tạo hình là loại nghệ thuật rộng rãi, đơn thuần. con đường nét giản dị và tùy nhân tiện, tạo cho tranh một thể hiện mộc mạc dể cảm. Màu sắc oắt con và chú trọng nhất là tuyến phố nét đen chạy viền, bố cục ko gò bó theo luật tương xứng. Tranh Tết VN là chiếc tranh mộc mạc chất phác đi thẳng vào lòng người những cảm xúc lúc thì uy nghiêm thờ phượng, lúc thì bình lặng suy tư, lúc thì dạy dỗ hoặc châm biếm nhẹ nhõm. khiến lòng người nồng ấm thêm 1 niềm tin, một chút kiêu hảnh bởi chiếc giống tiên nhân, hoặc thêm một tiếng cười hồn nhiên giòn giã trong ba ngày Tết. 9
2.1.1.3 Câu đối Câu đối tết thường viết trên nền giấy đỏ, mực đen có ý nghĩa màu đỏ tượng trưng cho sự êm ấm, sum hiệp, hạnh phúc thích hợp có không khí thiêng liêng của ngày Tết cổ truyền. Câu đối thường được treo ở chỗ trọng thể, phổ thông người thấy như: cửa ra vào nhà, 2 bên bàn độc Câu đối xưa được viết bằng chữ Hán, Nôm bởi những người học hành, chữ nghĩa nhiều năm kinh nghiệm mà dân gian thường gọi là Ông Đồ hiện nay câu đối tết còn được viết bằng chữ Quốc Câu đối Tết ngữ, nhưng theo bắt mắt thi pháp. Câu đối được chia thành hai loại: chiếc sở hữu tính quy phạm chiếc mang tính thi ứng. Câu đối sở hữu tính quy phạm, thường khiến cho ở trường sở, khiến cho để giáo huấn, thờ phụng… Câu đối với tính chất thi ứng, thường khiến cho trong những dịp hội hè, vãn đàm, hý lộng…, lại chia thành các dòng nhỏ như: Châm biếm – đả kích, thử tài trí, đối phó. Câu đối ngày xuân là một thú chơi tao nhã cho mọi người, mọi nhà, từ nông dân đến trí thức, trong khoảng kẻ nghèo hèn tới bậc đế vương, trong khoảng trẻ nhỏ đến người cao tuổi. Chính do vậy, ngày xuân, nếu thiếu một vài câu đối đỏ treo trong nhà chắc hẳn là ngày Tết chưa toàn vẹn. Đôi câu đối khiến cho người ta cảm thấy Tết cổ truyền phát triển thành linh nghiệm hơn, trang trọng hơn, và đặc trưng hơn những ngày thông thường khác. một số câu đối thân thuộc của dân gian ta: Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” “ Năm mới hạnh phúc bình an tới “ Tối ba mươi, giơ cẳng đụng cây nêu Ủa! Tết! Sáng mồng 1, lắng nghe nghe lời chúc Ồ! Xuân!” hai.1.1.4 Hoa Tết Đã thành thông lệ, cứ mỗi độ Tết đến Xuân về người người, nhà 10

Nguồn: https:/ /tailieu. vn/

Trả lời

DMCA.com Protection Status