Tài liệu

Tiểu luận vấn đề thất nghiệp của sinh viên

Tiểu luận vấn đề thất nghiệp của sinh viên

Tổng quan nội dùng của Tiểu luận vấn đề thất nghiệp của sinh viên

TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. —– —– Tiểu luận Đề tài: Thực trạng của vấn đề sinh viên ra trường thất nghiệp
MỤC LỤC LỜI nhắc ĐẦU ………………………………………………………….. 3 U Chương I : Phần nội dung …………………………………………… 5 I. ý kiến toàn diện của triết học Mac _ Lê Nin………… 5 III. nguồn cội của vấn đề ……………………………………….. 8 một. từ phía nền kinh tế- phường hội. …………………………………….. 8 Chương II/ Kết luận chung và 1 số kiến nghị giải pháp12 I/ Kết luận chung……………………………………………………… 12 II. giải pháp ……………………………………………………………. 12 1. phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng những ngành nghề sản xuất – buôn bán ………………………………………………. 12 TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………… 15
LỜI nói ĐẦU từ ngày đất nước ta có sự đổi mới về kinh tế , chuyển từ kinh tế quy tụ sang cơ chế thị trường nhiều thành phần, tự do hoạch động và hạch toán nên quốc gia cũng sở hữu phổ quát đổi thay. Sự thay đổi này đã đem lại cho quốc gia nhiều thành quả về kinh tế cũng như xã hội. Nhưng xét đến tính 2 mặt của vấn đề thì cơ chế thị phần bên cạnh các mặt được thì cũng còn những mặt chưa được : 1 trong những mặt chưa được ấy là những mặt ấy là hiện trạng sinh viên ra trường thất nghiệp ngày càng nâng cao, vấn đề phố hội mà gần như chơi sở hữu trong nền kinh tế bao cấp. đất nước muốn lớn mạnh thì phải đi lên trong khoảng lao động, mà sinh viên là nhóm cần lao trẻ, năng động, dồi dào và được tập huấn. vì thế đây là nguồn nhân lực rất quan trọng cần được sử dụng 1 phương pháp hợp lý hiệu quả. hiện trạng sinh viên thất nghiệp sẽ tác động toàn bộ đến tình hình tăng trưởng kinh tế, thị trấn hội của quốc gia. Vấn đề này cội nguồn do đâu, rẻ là: – Trình độ của sinh viên không phù hợp được bắt buộc ngày một cao của công việc, do chất lượng tập huấn rẻ của các trường đại học,cao đẳng ? – Do lượng cung lớn hơn cầu về nguồn lao động ? – Do chính sách của nhà nước chưa hợp lý trong việc tiêu dùng lao động ?
– Do sự chủ quan của sinh viên ko muốn công việc tại các vùng xa, cạnh tranh ? Vấn đề này được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau vì mỗi người mang 1 ý kiến khác nhau. Điều này xảy ra là vì về mặt nhận thức chủ thể chưa nhìn nhận vấn đề một bí quyết toàn diện, khái quát mà chỉ nhìn ở một phía một mực.Do vậy bài tiểu luận này em sẽ vận dụng ý kiến toàn diện của triết học Mác _ Lê Nin để giải thích khởi thủy của vấn đề và đưa ra một vài biện pháp. Phần nội dung của bài tiểu luận sẽ gồm các mục sau : Chương I : Phần nội dung I. ý kiến toàn diện của triết học Mác _ Lê Nin II. Thực trạng của vấn đề sinh viên ra trường thất nghiệp. III. khởi thủy của vấn đề Chương II : Kết luận và một số biện pháp Trong lần viết này bài tiểu luận của em kiên cố còn phổ quát khuyết thiếu. Em kính mong nhận được phổ biến ý kiến phê bình của những thầy cô giáo để em mang thể hoàn thiện phải chăng hơn trong các lần viết sau. Em cũng xin thực tâm cảm ơn sự viện trợ của các thầy cô giáo trong khoa đã giúp em hoàn thành rẻ bài tiểu luận này.
Chương I : Phần nội dung I. quan điểm toàn diện của triết học Mac _ Lê Nin Trong sự tồn tại của toàn cầu vòng quanh ta, mọi sự vật và hiện tượng đều với mối liên hệ và tác động hỗ tương với nhau chứ ko tách rời nhau, cô lập nhau. Như chúng ta đã biết “ quan niệm toàn diện” là ý kiến được rút ra trong khoảng nguyên lý về mối liên hệ nhiều. Muốn nhận thức hoặc hoạt động thực tế đúng về đối tượng nào đấy phải tính tới các mối liên hệ trong sự còn đó của đối tượng, dự phòng giải quyết quan niệm phiến diện Mối liên hệ giữa những sự vật , hiện tượng là mối địa chỉ của bản thân toàn cầu vật chất, ko do bất cứ ai quy định và còn đó độc lập với ý thức. Trên toàn cầu này với gần như mối liên hệ chẳng hạn như mối liên hệ giữa sự vật và hiện tượng vật chất, giữa mẫu vật chất và cái tinh thần. những mối liên hệ đều là sự phản ánh những ảnh hưởng tương hỗ, đề đạt sự quy định lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan. không chỉ mang vậy, các mối địa chỉ còn với tính đa dạng vẻ ( đa dạng) + Mối liên hệ bên trong và bên ngoài + Mối liên hệ cơ bản và không căn bản + Mối địa chỉ chủ yếu và thứ yếu + Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp Ở toàn cầu của những mối địa chỉ, mối địa chỉ bên ngoài nghĩa là sự tác động lẫn nhau giữa những sự vật, mối liên hệ bên trong tức thị sự tác động tương hỗ lẫn nhau của những mặt, những yếu tố, những bộ phận bên trong của sự vật. sở hữu mối địa chỉ căn bản thuộc về thực chất của sự vật, đóng vai trò quyết định, còn mối liên
hệ ko căn bản chỉ đóng vai trò phụ thuộc, ko quan trọng. đôi khi lại có mối địa chỉ chủ yếu hoặc thứ yếu. ở ấy còn với mối liên hệ trực tiếp giữa 2 hoặc phổ thông sự vật và hiện tượng, sở hữu mối liên hệ gián tiếp trong đấy có những sự vật và hiện tượng tác động lẫn nhau thông qua rộng rãi khâu trung gian. lúc nghiên cứu hiện tượng khách quan, chúng ta mang thể phân chia những mối địa chỉ ra thành từng chiếc như trên tuỳ theo thuộc tính thuần tuý hay phức tạp, phạm vi rộng hay hẹp, vai trò trực tiếp hay gián tiếp, nghiên cứu sâu hay sơ qua…. Phân chia những mối liên hệ phải phụ thuộc vào việc nghiên cứu cụ thể trong sự biến đổi và lớn mạnh của chúng. Hay nhắc khác đi, lúc coi xét sự vật thì phải với ý kiến toàn diện tức là nhìn nhận sự việc, vấn đề ở mọi khía cạnh, mọi phương diện. Theo Lê _ Nin “Muốn đích thực hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu gần như các mối quan hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”. Chúng ta chẳng thể khiến cho được điều đó 1 cách hoàn toàn gần như, nhưng sự vật nhu yếu phải xét đến đa số mọi mặt sẽ dự phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và cứng nhắc” ( Lê Nin toàn tập – NXB tiến bộ) lúc coi xét sự vật hiện tượng thì luôn phải chú ý đến quan niệm toàn diện nghĩa là lúc xem xét sự vật, hiện tượng phải nghiên cứu mọi mối liên hệ và sự ảnh hưởng tương hỗ giữa chúng, sự tác động qua lại của những nguyên tố, kể cả khâu trung gian, gián tiếp cấu thành sự vật đó, phải đặt nó trong một không gian, thời gian cụ thể, nghiên cứu quá trình phát triển trong khoảng kí vãng, bây giờ và dự đoán cho mai sau. Thế nhưng coi xét toàn diện không sở hữu tức là xem xét tràn lan mà phải coi xét từng nhân tố cụ thể nhưng có tính lựa chọn. với như thế chúng ta mới thực thụ nắm được thực chất của sự vật. Và cả khi nghiên cứu phố hội thì cũng rất cần đến ý kiến toàn diện vì những mối quan hệ trong xã hội không cô lập nhau, tách rời nhau mà ngược lại chúng đan xen ảnh hưởng qua lại với nhau .
hiện trạng sinh viên ra trường thất nghiệp cũng là 1 vấn đề phường hội mà nguyên do gây ra là quy tụ của đa dạng nhân tố ảnh hưởng tác động tới nhau. Chính vì thế, trong bài tiểu luận này em sẽ dùng ý kiến toàn diện của triết học Mác – Lê Nin để phân tích hiện trạng này. II . Thực trạng về sự thất nghiệp của sinh viên sau lúc thất nghiệp ra trường diễn ra từ đất nước ta với chính sách mở cửa giao lưu hiệp tác có những nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới, kinh tế chuyển sang nền kinh tế phổ biến thành phần tự do khó khăn lớn mạnh đã phát huy toàn bộ mặt tích cực. Mặt tích cực đáng chú ý là sự cố gắng vươn lên của lớp bạn trẻ mới để có thể đáp ứng được buộc phải, đòi hỏi của công tác.Sự mở mang vững mạnh kinh tế thị trường thực thụ đã mang đến những cơ hội việc làm sinh viên có khả năng, với năng lực, linh động. Nhưng chẳng phải mọi sinh viên ra trường đều mang việc khiến cho và đây là 1 vấn đề đang được để ý của thị trấn hội. Căn cứ vào thăm dò mới nhất của bộ GD- ĐT thì “năm 2000 cả nước với 126 trường đại học, cao đẳng mang hơn 73000 sinh viên chính qui phải chăng nghiệp thì tới niên học 2001-2003 đã có 157 trường đại học, cao đẳng sở hữu gần 12200 sinh viên ra trường’’(nguồn tin trên mạng Internet). Kết quả cho thấy tỷ lệ chung của sinh viên sở hữu việc khiến cho sau khi ra trường hiện nay là 72,47%, trong đó khối kĩ thuật công nghiệp chiếm 79,43% nông lâm ngư chiếm 71,55%, kinh tế luật chiếm 74,8%, sư phạm chiếm 81,5%(báo tiền phong số 115 ra ngày 24-3-2002). Và theo số liệu mới của viện kinh tế phát triển thì sinh viên khối kinh tế ra trường năm 2002 thất nghiệp 87% hoặc khiến cho việc trái nghề. kế bên các sinh viên với đủ những đề nghị mà nhà phỏng vấn đòi hỏi hoặc các người có người nhà, ứng tuyển hộ thì số còn lại phải chật vật chạy đi chạy lại với các trọng điểm giới thiệu việc làm cho. Cũng phải nói thêm rằng chính dựa vào sự khan hiếm việc làm cho này mà rộng rãi trọng điểm giới thiệu việc khiến cho “ ma ” mọc lên vài ba bữa để thu tiền lệ phí, tiền môi giới
việc khiến rồi biến mất. Hoặc 1 số sinh viên ra trường chấp thuận khiến trái nghề hoặc bất cứ nghề gì miễn sao sở hữu thu nhập. đấy là về phía sinh viên, còn về phía nhà phỏng vấn thì họ vẫn ‘ than’ là thiếu cần lao mà theo họ là thiếu những người có thương hiệu và khả năng làm cho việc độc lập cũng như 1 số yêu cầu khác. Vậy duyên cớ của vấn đề này do đâu? III. nguyên cớ của vấn đề 1. từ phía nền kinh tế- xã hội. Trong các năm nước ta còn thực hành chính sách bao cấp thì không mang hiện tượng sinh viên ra trường thất nghiệp. phần lớn là vì ngày ấy sinh viên còn ít số lượng những trường đại học ko phổ quát nhưng chủ yếu là sinh viên sau lúc tốt nghiệp thường được nhà nước cắt cử tác. Nhìn ngoại hình thì với thể là đủ việc khiến nhưng đôi khi các vị trí được sắp đặt vào chỉ cho đủ vị trí, cho mang hình thức, phổ quát lúc ‘chơi dài ngày’ hết tháng thì nhận lương nhà nước. Nhưng kể từ nhà nước có chính sách mở cửa kinh tế nhà nước chuyển sang kinh tế thị trường, các tổ chức phải tự lo cho mình, tự tính toán “ lời ăn, lỗ chịu” ko sở hữu sự bao cấp của nhà nước thì vấn đề việc llàm thực thụ trở nên bức bách. Cũng trong khoảng đây cơ cấu bộ máy trong các cơ quan gọn nhẹ hơn phổ thông do số lao động tuyển vào được cân kể chu đáo theo khối lượng và mức độ đòi hỏi của công việc. hiện giờ, sau lúc rẻ nghiệp thì đa số sinh viên phải tự đi sắm việc cho mình không tính 1 số trường thuộc nghành quân đội hay công an thì nghành chủ quản sẽ phân công công việc. hiện giờ, chúng ta có thể thấy 1 hiện tượng là sinh viên phải chăng nghiệp ra trường chỉ muốn trụ lại đô thị để làm cho việc đề cập cả những sinh viên xuất thân và lớn lên từ các miền quê. Họ chấp thuận ở lại thành thị để khiến việc dù là việc ko đúng có nghành được huấn luyện hoặc với thu nhập. tương tự một số nơi như hải đảo, vùng sâu, vùng xa thì vẫn thiếu trầm trọng

Nguồn: tailieu . vn

Trả lời

DMCA.com Protection Status